Nguyên tắc sử dụng con lắc cảm xạ

By | 01/09/2014

1. Cấu tạo con lắc cảm xạ

Con lắc cảm xạ trên hình 8.2 là con lắc hình quả cầu. Nó gồm có 2 phàn: con lắc và sợi dây treo. Con lắc thường làm bằng kim loại, có thể bằng thép mạ, cũng có thể làm bằng đồng, gỗ, thạch anh, đá ngọc. Hình dáng con lắc có thể là hình cầu, hình nhọn, hình đầu viên đạn, hình tháp v.v. Khối lượng của con lắc thường 10 đến 80g, thông dụng 20 – 30g. Có thể làm đặc hoặc rỗng, có thể có hoặc không có hình hoa văn trang trí. Có khi con lắc là một cái nhẫn. Con lắc được treo trên một sợi dây dài khoảng 10 – 20cm, có thể bằng sợi kim loại, sợi chỉ hoặc sợi tóc. Cũng có khi người ta làm những con lắc đặc biệt nặng tới nửa cân, sợi dây dài cả mét để dùng trong tìm mỏ.

Con lắc cảm xạ

2. Sử dụng con lắc cảm xạ

a) Cầm con lắc

Khi dùng con lắc cảm xạ người ta cầm ở độ dài sợi dây khoảng 10 – 15cm (hình 8.3). Khi đó, con lắc sẽ làm việc theo 2 chế độ: Hoặc là lắc dọc hay lắc ngang, hoặc là quay thành vòng tròn thuận chiều hay ngược chiều kim đồng hồ. Dây càng dài
thì con lắc quay càng chậm, lắc càng chậm và ngược lại. Quy ước cho câu trả lời của con lắc là: Có – Không, Đủng – Sai, Thuận chiều – Ngược chiều kim đồng hồ.

Nguyên lý làm việc của con lắc

b) Đặt câu hỏi cho con lắc

Bây giờ người cầm con lắc phải đặt câu hỏi cho nó. Cụ thể câu hỏi là: Đúng hay Sai, Có hay Không, hoặc nếu đúng thì quay thuận chiều kim đồng hồ, sai thì quay ngược.
Thí du:
– Câu hỏi: Nhà này có cân bằng Âm Dương Khí không? Trả lời: Có hoặc Không.
– Câu hỏi: Nhà này Âm Dương khí cân bằng đúng
không?
Trả lời: Đúng hoặc Sai.
– Câu hỏi: Tại đây nhiều Tà khí quá phải không? Nếu đúng thì quay thuận chiều kim đồng hồ, sai thì quay ngược.
Trả lời: Quay thuận hay ngược chiều kim đồng hồ.
Khi đã nhận được câu trả lời của con lắc thì nhắc con lắc theo chiều lên xuống để triệt tiêu câu hỏi, có lời cảm om rôi mới chuyển sang câu hói khác.

c) Phác đồ cho con lắc

Có rất nhiều phác đồ để trợ giúp con lắc trả lời. Phổ biến nhất là phác đồ Có – Không, Đúng – Sai . Phác đồ này là một nửa vòng tròn, được chia làm 2 phần bằng nhau, giới hạn bởi bán kính OA. Một bên đề chữ Có (hoặc Đúng), một bên đề chừ Không (hoặc Sai). Khi cầm con lắc, đầu tiên phải tịnh tâm (tâm trở về Mo), rồi đặt câu hỏi Có – Không, Đúng – Sai cho con lắc. Sau đó nhẹ nhàng đặt chân con lắc chạm vào vòng tròn đen tại o rồi lắc nhẹ con lắc theo trục OA. Tập trung tâm trí để cho con lắc tự do chuyển hướng lắc về nửa Có hay Không, Đúng hay Sai. Sau khi nhận kết quả trả lời thi nhẹ nhàng nâng hạ con lắc theo phưomg thẳng đứng để triệt tiêu câu hỏi, có lời cảm om. Neu câu hởi không phải là liên tục cái ta đang làm, mà chuyển sang hẳn vấn đề khác hoặc con người khác thì nên cầm con lắc trong lòng bàn tav và quay bàn tay 3 cái để triệt tiêu từ trường đã sinh, như vậy mới không gây nhiễu cho cái sắp hỏi.

Phác đồ Có – Không, Đúng – Sai

Những phác đồ khác sẽ được trình bày dưới đây là theo mục tiêu sử dụng cụ thể.

Con lắc chỉ Có – Không

d) Yêu cầu khi cầm con lắc

Có mấy yêu cầu cần đảm bảo khi sử dụng con lắc như sau:
– Tâm phải thành, rất tập trung, tĩnh tại, trở về Mo để không bị nhiễu loạn;
– Câu hỏi phải rõ ràng, ngắn gọn. Tập trung tâm trí cao vào câu hỏi đặt ra;
– Xung quanh ta không có người hoặc các trang thiết bị (như ti vi, máy tính, máy điện thoại di động, đèn chiếu quá sáng…) gây nhiễu trường năng lượng;
– Tâm Thân phải hòa đồng để nhận trả lời chuẩn xác của con lắc.
– Không ích kỷ. Chỉ có thế làm việc với con lắc với mục đích như sau:
Nhận thức thông tin, cái tinh tế của Trời Đất;
Rèn luyện tâm hồn;
Giúp đỡ người khác.
Giữ gìn sức khỏe của bản thân;
Không vụ lợi.
– Khiêm tốn, biết ơn nội tâm, kính trọng lành mạnh và sâu sắc đối với môi trường, vũ trụ mà ta tiếp xúc.
– Không sử dụng con lắc khi ta mệt mỏi, ốm đau, thần kinh căng thẳng.
– Không sử dụng con lắc khi Trời đang có mưa giông, sấm chớp, bão từ.
– Không dùng con lắc để trình diễn.

3. Các bước thao tác cầm con lắc

Khi dùng con lắc cảm xạ để nhận thông tin thì cần thao tác theo 4 bước sau đây:

1. Nâng chân Khỉ: cầm con lắc trong lòng bàn tay. Nắm 2 tay lại. Tập trung tư tưởng vào nội tâm. Từ từ thu Khí vào Đan điền (vùng bụng dưới rốn khoảng l,5cm). Luyện Khí trong Đan điền để nâng chân Khí. Xả Khí từ Đan điền ra 2 bàn tay. Cảm giác 2 lòng bàn tay ấm lên.

2. Đinh hướng thầm: Rất tập trung tư tưởng và thầm nêu mục đích dùng con lắc lần này là để làm gì, để hỏi cái gì.

3. Đăt câu hỏi và quy ước thầm: Đặt câu hỏi cụ thê cho con lắc để nhận thông tin từ con lắc. Quy ước chiều quay Đúng – Sai, Có – Không cho con lắc và để nó tự quay theo chiều nào (thí dụ: thuận chiều kim đồng hồ là Có, Đúng, Tốt…; ngược chiều là Không, Sai, xấu…, dao động lắc không quay là không có câu trả lời). Hoặc yêu cầu con lắc lắc theo phác đồ định sẵn. Con lắc trả lời bằng cách lắc sang ô có chữ Có hoặc ô có chữ Không.

4. Nhản thông tin trả lời của con lắc: Theo dõi con lắc quay hoặc lắc theo phác đồ đế có câu trả lời. Sau khi nhận được trá lời thì nâng nhẹ con lắc lên xuống theo chiều thẳng đứng để triệt tiêu ý vừa hỏi. Có lời cảm ơn rồi mới chuyển sang câu hỏi khác.

Trong 4 bước kế trên thì bước thứ 3 là rất quan trọng. Trong bước này ta cần tập trung tư tưởng vào con lắc, để nó tự trả lời, không được có thiên ý thầm trả lời thay con lắc. Nếu trong tâm ta có ý trả lời sẵn thì nó sẽ tác động vào con lắc, làm cho con lắc trả lời theo ý ta. Vậy thì không còn chính xác khách quan nữa. Đây là điều rất khó, đòi hỏi ta phải bế ngũ quan, đưa tâm ta vào trạng thái nhập định, trở về “Mo” (không biết, không nghe, không thấy), nhưng vẫn rất tỉnh táo. Muốn vậy thì phải tập Thiền. Vì việc ra câu hỏi và đợi con lắc trả lời diễn ra rất nhanh, nên đòi hỏi ta phải nhập định rất nhanh chóng. Người tập Thiền lâu sẽ đạt đến trình độ nhập định nhanh, gần như đã lập trình sẵn trong cơ thể, chỉ cần nghĩ đến tịnh thì đã tịnh được rồi, đã về Mo được rồi. cầm con lắc mà Tâm không về Mo thì con lắc sẽ bị Tâm ta điều khiến hoặc làm nhiễu loạn, và như vậy thì không thể chuẩn xác được. Cho nên muốn có trả lời chính xác của con lắc thì người dùng con lắc phải có quá trình tập Thiền.