Chu kỳ sáu mươi năm

By | 21/05/2014

CHU KỲ SÁU MƯƠI NẢM (1): MƯỜI HAI CHI
Người ta quen gọi ỉà mười hai con giáp dùng để tính nãm. Tên của những con vật này đã được các nhà sư (đạo Phật) chấp nhận vào khoảng thế kỷ thứ bảy để làm tên phổ thông cho mười hai ký hiệu gọi là Mười hai chi (Thập nhị chi): Tí (chuột), Sửu (trâu), Dần (hổ), Mão (mèo), Thìn (rồng), Tị (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (lợn).
Mười hai chi được đùng để tính không những cho năm mà cả cho 12 tháng của một năm, 12 giờ kép, của người Hoa trong một ngày, và ngay cả để tính ngày nữa.
Chúng ta quy ước dìuig chữ số La Mã từ I đến XII để chỉ Mưừi hai chi. Chi 1 chỉ năm thứ nhất của chu kỳ là năm Tí (năm Chuột). Nó cũng để chỉ giờ kép thứ nhất, giờ Tí; vì lấy nửa đêm làm điểm giữa nên giờ Tí đuợc tính từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng hôm sau.
Vì lý do lịch sử, chi I khòng được chỉ tháng đầu của năm Trung Hoa mà chỉ tháng trong đó có tiết Đông chí, tức là trước đó hai tháng.
Người Trung Hoa tiếp tục tính ngày theo chu kỳ 12, không ngắt quãng, chu kỳ này tiếp chu kỳ khác cho cả hàng ngàn năm. Thí dụ, ngày đầu của năm 1900 là ngày XI (Tuất), ngày đầu của năm 2000 sẽ là ngày VII (Ngọ).

Chu kỳ sáu mươi năm, Chu kỳ sáu mươi năm